May 21, 2012
ẢNH: VÕ THẠNH VĂN
THƠ: NGUYỄN ĐỨC NHƠN
Có tiếng động mạnh trên tầng lầu 2. Tôi bước vội ra sân nhìn lên, nhưng chỉ kịp thấy cánh cửa căn chung cư đóng sầm lại rồi im bặt. Ánh đèn từ khung cửa sổ cũng phụt tắt. Tôi đang bối rối không biết phải làm thế nào thì điện thoại trên bàn bật reo. Tôi vội nhấc máy và sững sờ khi nghe tiếng bà Thanh ở đầu dây bên kia:
- Anh Hải lên khóa cửa giùm em.
Tôi hỏi nhanh:
- Chị đang ở đâu vậy?
- Em đang ở Dallas, khi chiều ra đi em quên khóa cửa. Anh lên khóa giùm em nhé, cám ơn, bye.
Tôi chưng hửng, càu nhàu:
- Con khỉ! chưa kịp hỏi gì đã cúp, đồ điên…
Hôm sau, khi gặp bà Thanh, tôi chưa kịp mở lời phân trần… thì bà nhìn tôi tươi cười:
- Cảm ơn anh đã khóa cửa giùm em.
Nghe bà Thanh nói, tôi chới với không biết phải ứng đáp thế nào vì tôi có khóa cửa giùm bà bao giờ đâu! Chìa ở đâu mà khóa! Bất chợt, tôi nghĩ đến một điều: “Ở Mỹ chìa khóa nhà ai nấy giữ. Đâu có tùy tiện đưa cho người khác. À, mà sao bà ta lại nghĩ là mình có chìa khóa nhỉ? Nếu bà ta bị mất đồ thì sao?” Nghĩ đến đây tôi đâm hoảng nhưng cố lấy bình tĩnh hỏi:
- Chị có bị mất mát gì không?
Bà Thanh cười tươi như hoa:
- Dạ không. Nhờ anh khóa cửa nên không xẩy ra chuyện gì. Hú hồn!
- À này chị Thanh, khóa cửa của chị có mấy chìa vậy?
- Bà Thanh trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên:
- Anh hỏi làm chi vậy? Anh Hải ơi, ở Mỹ đừng hỏi những việc như vậy, không tốt đâu.
Tôi kêu trời không thấu, cười dở, khóc dở, miệng méo xẹo:
- Đúng… đúng…, chị nói đúng! À này chị Thanh, tôi làm gì có chìa khóa của chị mà chị nhờ tôi khóa cửa? Chị có chắc là khi trở về, cửa của chị đã được khóa không?
Bà Thanh nhìn tôi với vẻ ngơ ngác, cặp mắt láo liên hình như đang nghĩ đến một điều gì đó, rất quan trọng. Bà thở dài sườn sượt nói:
- Xin lỗi… xin lỗi… em lẩm cẩm quá.
Bà Thanh không nói gì thêm, vội vã quay lưng bước lên thang gác…
Gần một tháng nay căn chung cư số 13 của bà Thanh cửa đóng im ỉm, cũng không thấy xe bà đậu ở parking lot. Tôi không rõ bà đi xa hay đã đổi chỗ ở? Tuy căn nhà bỏ trống, nhưng thỉnh thoảng tôi lại nghe có tiếng chân người đi tới, đi lui, nện gót giầy thình thịch trên sàn nhà. Đôi khi lại có ánh sáng lờ mờ của loại đèn ngủ phát ra từ khung cửa sổ. Tôi vốn là người không tin ma quỷ, nhưng với những hiện tượng kỳ lạ trên tầng lầu 2, khiến tôi khó tìm được giấc ngủ thanh thản, nhất là về đêm. Tôi đâm lo và không biết tại sao lại cảm thấy buồn buồn sau những ngày không gặp bà Thanh! Nhiều đêm tôi cứ trằn trọc, thao thức mãi cho đến gần sáng mới chợp mắt được. Tôi dọn đến ở đây gần được sáu tháng. Tôi không vợ con và cũng chẳng có bạn bè, thân thuộc gì. Có thể nói bà Thanh là người thân quen duy nhất của tôi. Nghe đâu bà ta ở đây đã trên bốn năm rồi. Bà cũng như tôi. Độc thân. Tính tình trầm lặng. Không giao du bạn bè. Bà làm thu ngân viên cho một trung tâm bán lẻ. Ngoài thời gian đi làm và đi chợ, hầu như lúc nào bà cũng có mặt ở nhà. Trong suốt thời gian quen biết nhau, vì nhà đơn độc, nên tôi chỉ trò chuyện với bà ngoài hành lang, chứ không dám mời vào nhà. Tôi không phải là thần thánh gì, nên biết mình khó giữ được “bình tĩnh” khi đứng trước một người đàn bà xinh đẹp trong một căn phòng vắng vẻ, nhất là khi đối diện với đôi mắt mơ màng, đôi môi hé mở, như mời mọc, như sẵn sàng, chờ đợi…
Cho xe vào chỗ đậu xong. Tôi phát hiện chiếc xe bên cạnh là của bà Thanh. Tôi xuống xe nhìn lên căn nhà số 13. Cửa đóng. Không có ánh đèn chiếu ra từ khung cửa sổ. Nhìn đồng hồ mới 9 giờ 15. Tôi vào nhà nhấc điện thoại gọi mấy lần nhưng không có ai trả lời. Cell phone của bà cũng không liên lạc được từ lâu. Tôi đi tới đi lui, nghĩ ngợi lung tung một hồi, rồi quyết định lên nhà bà gõ cửa. Không có ai trong nhà. “Bà Thanh đi đâu nhỉ? Chắc chắn là bà đã về rồi. Xe bà đang đậu dưới parking kia mà! Hay là có ai đến chở bà đi…” Nghĩ đến đây, tự nhiên tôi thấy nóng bừng cả mặt, một nỗi hờn giận vô cớ xuất hiện trong đầu. Tôi lững thững bước xuống thang gác mà hồn thì thả tận đâu đâu…
Sau lần đó, căn nhà số 13 yên tịnh lạ thường và bà Thanh cũng bặt vô âm tín. Tôi đánh liều đến văn phòng hỏi thăm về tin tức của bà. Cô thư ký lật sổ xem rồi cho tôi biết bà Thanh vẫn đóng tiền thuê căn gác hàng tháng đều đặn, đúng kỳ, còn việc bà đi đâu thì cô cũng không rõ. Tôi ra về với những nghi vấn đầy ắp trong lòng. Tôi biết bà Thanh không giàu, tại sao lại bỏ tiền mướn nhà mà không ở? Tôi lại tự trách “việc của người ta, mắc mớ gì đến mình mà sao cứ đèo bồng, nghĩ ngợi lung tung!” Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng hình ảnh của bà Thanh cứ chập chờn ẩn hiện trong đầu tôi không thể nào xóa tan đi được.
Một hôm khi ở sở về, tôi thấy một miếng giấy nhỏ dán ở trên cánh cửa. Đọc xong tôi kêu trời không thấu. Miếng giấy ghi vỏn vẹn mấy chữ “đúng vào ngày 13 tháng này, nhờ anh lên nhà thắp giùm em ba nén hương trên kệ thờ. Cảm ơn trước. Thanh”. Mực dùng viết trên miếng giấy màu đỏ, hình như từ một cây bút bi gần hết mực, nên nét chữ chỗ đậm, chỗ lợt, chỗ nhòe ra từa tựa như viết bằng máu. Tôi đứng thừ người lẩm bẩm: “Không biết con khỉ này chơi cái trò gì đây?!”
Tôi tính nhẩm, từ đây đến ngày 13 còn khoảng hơn một tuần. Tất nhiên là tôi không thể làm theo lời nhờ vả của bà được. Tôi nghĩ thầm trong bụng: “Đã ở căn nhà số 13 lại nhờ mình thắp nhang cũng vào ngày 13; Ôi chao, con số 13 ở Mỹ đâu có đem ra đùa cợt được!”. Thế là tôi cứ nơm nớp chờ đến ngày 13 xem có việc gì xẩy ra hay không?
Đang ngồi đọc báo ở phòng khách thì điện thoại reo. Tôi nhấc lên nghe nhưng điện thoại cứ rít rít, è è không làm sao nghe được. Giọng nói ở đầu dây bên kia cũng nhòe nhoẹt, đứt quãng, chỉ nghe được mấy tiếng “Thanh đây… Thanh đây…” rồi sau đó là những tạp âm nghe đến rợn người. Đó là vào một chiều Chúa nhật trời nhá nhem tối. Bên ngoài mưa tầm tã. Những giọt nước từ trên hành lang căn gác nhỏ xuống khóm bạc hà trước hiên nghe lộp độp, lộp độp, thật buồn. Tôi mở cửa bước ra ngoài. Một cảnh tượng làm tôi suýt đứng tim đang hiện ra trước mắt. Những giọt máu từ trên hành lang căn gác rơi xuống đọng trên mấy phiến lá bạc hà, rồi nhểu từng giọt xuống bộ xương người làm bằng chất nhựa màu trắng mà tôi đã đặt ở dưới mái hiên trong ngày Halloween. Tôi bước vội vào nhà định gọi 911. Nhưng kịp nghĩ lại “không lẽ có kẻ giết người vào giờ này?” Tôi do dự một chút rồi quyết định lên gác xem việc gì đã xẩy ra. Tôi cẩn thận từng bước đến trước căn nhà số 13. Tôi ngẩng người khi phát hiện ra ngay ở mép hành lang, ai đó đã để một hộp sơn màu đỏ (loại pha nước). Nước mưa tạt vào làm tràn hộp sơn rồi theo kẽ hở chảy xuống tầng dưới. Tôi lững thững bước xuống cầu thang, vừa cười vừa mếu!
Vào nhà ngả lưng trên sofa, tôi ngẫm nghĩ “có lẽ gần đây mình cứ bị ám ảnh bởi căn nhà số 13, nên không kịp nhận định, quan sát kỹ càng, nên mới tưởng tượng ra cái chuyện buồn cười, lãng nhách này! Nhưng rồi tôi lại nghĩ “tại sao hộp sơn để ngay trước căn nhà số 13 mà không để ở một căn chung cư nào khác? Tại sao hộp sơn lại mở nắp ra? Tại sao lại chọn đúng vào buổi tối nhá nhem, trời mưa tầm tã này? Hay là có kẻ dùng sơn đỏ để hăm dọa, cảnh cáo mình? Tại sao và tại sao?… Hàng loạt câu hỏi khó trả lời lần lượt hiện ra trong đầu tôi…
Cuối cùng ngày 13 cũng đến. Khi làm về, tôi đứng ở parking lot rất lâu để quan sát kỹ càng căn nhà bà Thanh. Cửa vẫn đóng. Không thấy có hiện tượng gì khác lạ. Tôi vào nhà thay quần áo rồi vô bếp lục thức ăn. Bưng tô cơm có trộn xì dầu và cải mặn vào phòng khách, tôi vừa ăn vừa nghĩ đến những mẫu chuyện rùng rợn mà người ta đã kể cho tôi nghe về con số 13. Câu chuyện đầu tiên xẩy ra vào thời Đệ nhị Thế chiến, một quả đại pháo của quân Đức rớt ngay giữa một nhóm lính Mỹ gồm 13 người, tất cả đều tử thương. Từ đó về sau người ta rất úy kỵ con số 13 và cũng từ đó người ta sáng tác ra không biết bao nhiêu chuyện ly kỳ quái đản có liên quan đến con số 13, với một kết luận chắc nịch: “13 là con số xui tận mạng!”
Mở cửa ra ngoài cho thư giãn một chút, nhưng bầu trời xám ngắt, cảnh vật âm âm, tôi vội trở vào nhà vì thấm lạnh. Ngồi một mình ở phòng khách, tôi cảm thấy buồn bã, cô đơn, trống vắng vô cùng. Thật ra, cái cảm giác này chỉ đến với tôi trong những ngày không gặp bà Thanh. Tôi đã yêu bà? Đúng, điều này tôi biết rõ. Nhưng lắm lúc tôi lại cảm thấy băn khoăn vì những hiện tượng quái lạ trên tầng lầu 2. Ngày xưa, khi còn trẻ, tôi đã say mê đọc Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh. Vì vậy, không ít thì nhiều, cũng bị ảnh hưởng bởi những mối tình tuyệt đẹp giữa người và yêu tinh. Tôi không phải là một anh học trò nghèo mải mê đèn sách. Bà Thanh cũng không phải là một con chồn tinh. Ấy thế mà tôi cứ thấp tha thấp thỏm trong lòng. Tôi uể oải đứng lên, khoác cái áo lạnh lên người, định lái xe chạy một vòng cho khuây khỏa, nào ngờ mới mở cửa ra, thì bà Thanh đang từ nơi đậu xe lù lù bước tới. Tôi đứng sững như trời trồng, miệng cứ ú ớ mãi. Bà Thanh hơi ngạc nhiên nhưng cũng kịp nhận ra ở tôi đang có một việc gì đó, không được bình thường. Bà đoán như vậy rồi vội vàng lên tiếng:
- Làm sao vậy anh Hải? Không hoan nghênh em trở về à? Tôi vội lấp liếm cho qua chuyện:
- Đâu có! Chỉ hơi ngạc nhiên thôi.
Bà thanh tiếp:
- Lạnh quá! Em vào nhà được không?
Tôi miễn cưỡng mời bà vào nhà mà lòng thì băn khoăn không ít. Ngồi vào ghế xong xuôi, bà Thanh cất giọng hỏi:
- Hôm nay anh có lên gác thắp mấy nén hương dùm em không?
Nghe bà Thanh hỏi tôi đăm ra bực mình nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:
- Chị Thanh ơi! Chị biết tôi không có chìa khóa của chị mà sao cứ nhờ… hoài vậy?!
Bà Thanh hơi ngơ ngác một chút rồi lên tiếng:
- Chết! Em lại lẩm cẩm nữa rồi. Xin lỗi anh nhé.
Tôi nói:
- Không có gì.
Im lặng một chút. Bà Thanh nhìn quanh căn nhà với một vẻ chăm chú khác thường. Tôi đánh tan sự im lặng:
- Này chị Thanh, mấy tháng nay chị đi đâu vậy? Tôi có gọi cell phone mấy lần mà không được.
Bà Thanh nhìn tôi với nét buồn vời vợi:
- Mấy tháng nay em không dùng cell phone anh à!
Tôi định hỏi bà thêm một câu, nhưng chưa kịp mở miệng thì bà Thanh tiếp:
- Anh Hải à! Nếu em có một việc đáng buồn nào đó muốn tâm sự cùng anh thì anh có chịu nghe không?
Tôi trả lời không do dự:
- Nghe chứ! Nhưng tôi sợ không giữ được bí mật khi nghe những điều ấy!
Bà Thanh thở dài nói:
- Thực ra cũng chả có gì bí mật cả.
Bà vừa nói dứt câu thì gục đầu xuống bàn khóc nức nở. Tôi đâm hoảng, bối rối không biết phải ứng xử thế nào trước sự việc xẩy ra đột ngột như vậy. Tôi còn đang ngồi chết trân thì bà Thanh ngước mặt lên vừa đưa tay lau nước mắt vừa thì thầm qua hơi thở:
- Anh lên gác với em được không?
Tôi nhìn bà gật đầu nhưng trong thâm tâm có một chút băn khoăn, ngần ngại. Đây là lần đầu tiên bà mời tôi lên nhà.
Bà Thanh mở cửa rồi vói tay vặn nút điện. Ánh sáng từ chiếc đèn màu vàng nhạt trên trần nhà tỏa xuống một thứ ánh sáng yếu ớt, nhờn nhợn nhưng cũng đủ cho tôi quan sát tường tận mọi vật bày biện trong nhà. Tôi để ý đến cái kệ thờ bằng gỗ, sơn màu đỏ gắn trên tường nhà. Trên kệ thờ là ảnh một người đàn ông còn khá trẻ, khoảng ba mươi, ba mươi lăm gì đó. Phía trước tấm ảnh là một lư hương bằng đồng, đầy ắp chân nhang.
Bà Thanh loay hoay trong bếp một hồi rồi bưng ra ba ly cà phê. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra ngay. Bà Thanh lấy một ly để lên kệ thờ rồi đốt nhang cắm vào lư hương. Bà làm mấy việc này một cách tự nhiên và thành thạo. Bà nhìn tôi với một chút ngạc nhiên hỏi:
- Anh Hải làm gì mà ngồi thừ người ra vậy?
Tôi lúng túng chưa kịp trả lời thì bà chỉ ly cà phê nói tiếp:
- Mời anh. Em không biết uống cà phê, nhưng hôm nay trời lạnh, em uống với anh một ly.
Tôi tò mò:
- Không biết uống mà sao chị có sẵn cà phê trong nhà vậy?
Bà Thanh trả lời một cách tự nhiên:
- Dạ hôm nay là ngày giỗ anh Long, hồi nãy, trên đường về, em ghé chợ mua một gói để cúng anh ấy.
Tôi tò mò hỏi:
- Anh Long nào vậy?
Bà Thanh vừa đưa tay chỉ lên kệ thờ vừa trả lời hồn nhiên như một đứa bé:
- Ảnh đó, chồng em đó.
Tôi “ồ” lên một tiếng rồi lảng sang chuyện khác:
- Mấy tháng rồi chị Thanh đi đâu vậy?
Bà Thanh trả lời ngay, không một chút suy nghĩ:
- Em đi lấy chồng.
Tôi chưng hửng. Ngồi trân. Bà Thanh nói tiếp:
- Mà không được đâu anh à, thà ở vậy còn sướng hơn.
Bà Thanh nói như để phân bua, còn tôi thì như một trái banh, bị bà ta “nhồi” đến tối tăm mày mặt!
Một phút im lặng. Mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ riêng. Bỗng dưng bà Thanh giương cặp mắt tròn xoe nhìn tôi nói nhanh:
- Mấy hôm trước em có về nhưng không gặp anh. Em về để thắp hương cho anh Long và sơn lại cái kệ thờ. Hôm đó em lu bu quá nên để quên cái hộp sơn ở trước nhà bị trời mưa trôi đi hết lại còn bị office cằn nhằn đòi em phải kêu người đến “clean!”
Tôi ngớ người lẩm bẩm: “thì ra là vậy!” Bà Thanh nhìn tôi ngơ ngác:
- Anh lầm bầm cái gì đó?
Tôi nói nhanh:
- Ờ không, tôi định hỏi chị Thanh chừng nào đi lại?
Bà Thanh thở dài sườn sượt nói:
- Còn đi đâu nữa, em sợ quá rồi.
Những câu úp mở của bà Thanh càng gợi thêm tính tò mò của tôi. Tôi quyết định, từ Thanh, phải khám phá cho bằng được những việc kỳ quái mà mấy tháng nay nó luôn ẩn hiện trong đầu tôi:
- Chị Thanh à! Có việc này tôi hơi tò mò một chút, chị đừng giận nhé. Bà Thanh nhìn tôi với vẻ thản nhiên:
- Anh cứ hỏi, có sao đâu!
Tôi mạnh dạn hỏi:
- Chị nói đi lấy chồng sao còn tính về đây ở luôn?
Bà Thanh trả lời một cách tự nhiên, thật thà:
- Chuyện hơi dài dòng, anh chịu khó ngồi nán lại một chút nhé. Cách đây khoảng năm sáu tháng gì đó, tình cờ em gặp một người đàn ông, gốc Ấn Độ. Nhà ông ta ở cách đây chừng một giờ lái xe. Ông ta là chủ một công ty sản xuất đồ gỗ. Ông ta vung vãi tiền bạc để chinh phục em. Nhắc đến thật xấu hổ. Lúc đó em bị tiền bạc làm mờ mắt nên đồng ý gả cho ông ta. Tuy đã làm vợ người ta, nhưng hình ảnh của anh Long không làm cách nào xóa mờ trong tâm hồn em được. Vì vậy, em quyết định dùng số tiền moi được từ người chồng mới này để trả tiền hàng tháng cho căn chung cư hầu duy trì nơi thờ phụng anh ấy được tháng nào hay tháng đó. Nào ngờ, người chồng mới này của em là một người ghen bậc nhất trên đời. Ông ta kềm kẹp, giám sát, theo dõi em còn hơn một người tù, thậm chí còn cấm không cho em nói chuyện điện thoại với bất cứ người nào. Tuy vậy, thỉnh thoảng, em cũng tìm cách lén về nhà dọn dẹp đồ đạc, thắp nhang cho anh Long rồi trở về ngay. Những lần như vậy, em biết anh có ở nhà, nhưng không dám quấy rầy giấc ngủ của anh. Với cái cảnh sống như ở tù này làm tinh thần em sa sút trầm trọng, cho đến sáng hôm nay, như tức nước vỡ bờ, em tranh cãi với ông ta một trận dữ dội rồi cuốn gói trở về đây.
Nghe bà Thanh kể xong, tôi thở phào nhẹ nhõm: “làm ầm ầm, còn nói là sợ người ta mất ngủ.
- Anh nói gì?
- Ờ… không!… tôi nói… con mẹ nhà bên cạnh làm ồn ào quá!
Bà Thanh lớ ngớ, không hiểu rõ tôi muốn nói gì, nhưng bà cũng không mấy quan tâm về câu nói ỡm ờ của tôi. Hình như bà đang nghĩ về một điều gì khác, quan trọng hơn. Bà nhìn tôi im lặng, thở dài.
Chiếc đồng hồ trên tường gõ nhẹ mười hai tiếng. Thấy ngồi thêm bất tiện nên tôi đứng dậy chào bà rồi bước ra cửa. Từ đó, khoảng cách giữa tôi và bà Thanh mỗi ngày một thu ngắn lại…
Từ bến xe về nhà chú tôi phải băng ngang một cánh đồng hoang. Ở cuối cánh đồng, gần khu chợ chồm hổm Tân Mai có một căn nhà lá nằm trơ vơ với những bức vách xiêu vẹo te tua vì trải qua nhiều năm tháng không được tu sửa. Tôi ghé vào xin nước uống. Bà chủ nhà hé cửa, ló đầu ra hỏi anh cần gì? Tôi nói trời nóng quá chị cho xin miếng nước và đụt mát một chút được không? Bà chủ nhà vừa mở cửa vừa nói mời anh vào rồi bước đến cầm chiếc ấm rót nước vào cái ly làm bằng đất nung. Căn nhà, ngoài lối đi và cái sân nhỏ phía trước, chung quanh đều là cây dại và cỏ tranh. Bên trong nhà kê một chiếc giường tre và một cái bàn với bốn chiếc ghế đẩu làm bằng gỗ tạp. Ở bức vách phía sau, kê một bàn thờ, trên bàn thờ là ảnh một người lính trẻ, mặc đồ trận, không thấy mang cấp bậc. Trước ảnh là một lư hương bằng sành, trên lư hương, vài ba chân nhang cắm xiêu vẹo. Thấy tôi đứng nhìn trân tấm ảnh, bà chủ nhà thở dài nói mời anh ngồi. Đó là ảnh thằng con tôi. Nó chết hồi còn chiến tranh. Thằng nhỏ mới ra trường Bộ Binh Thủ Đức được mấy tháng thì đụng trận bị thương, trực thăng chở về chưa tới bệnh viện là nó đi rồi. Thấy bà chủ nhà có vẻ cởi mở nên tôi bắt chuyện làm quen, xin lỗi chị tên gì vậy? Tôi tên Trang. Cảm ơn chị Trang, tôi từ bến xe về nhà chú tôi nhưng nắng nóng quá đành ghé vào đây làm phiền chị. Có phiền gì đâu, nhưng nhà không có trà, anh dùng tạm nước lạnh vậy. Tôi hỏi Trang chị còn cháu nào không? Còn. còn một đứa con gái. Nó lấy chồng tuốt dưới miệt lục tỉnh. Năm, nửa năm mới về một lần. Chị ở nhà này một mình? Chớ sao giờ. Bà Trang ngừng một chút rồi nhìn tôi tò mò, anh có mấy cháu? Chị làm nghề gì vậy? Bà xã tôi lấy chồng khác rồi. Tôi cũng có một đứa con trai, nó nghịch ngọm lượm đầu đạn đập lấy chì bị nổ chết rồi. Ồ! Xin lỗi đã khơi lại chuyện buồn của anh. Mà lý do gì hai người thôi nhau vậy? Vợ tôi không chờ được, bà ấy lấy chồng khác vì cho rằng tôi không thể trở về. Anh ở tù cải tạo? Vâng, tôi ở sáu năm. Bà Trang thở dài sườn sượt nói ông xã tôi cũng ở tù. Tôi hỏi anh ấy về chưa? Ổng chết rồi. Chết khi còn ở trong tù. Có người cùng trại với ổng về nói với tôi như vậy. Tôi bán tín bán nghi nên có đến trại giam hỏi thăm tin tức. Người ta bảo là ổng đã chuyển trại. Tôi có hỏi chuyển đến trại nào thì họ không trả lời vì vậy mà tôi tin là ổng đã chết thật rồi. Chiến tranh cũng chết, hòa bình cũng chết. Biết sao giờ! Bà Trang không nói gì thêm. Hình như bà đang hồi tưởng một điều gì đó. Nét mặt bà thoáng hiện một nỗi buồn xa xăm khó hiểu. Mặt trời đã ngã về phương tây. Khu đồng hoang trở nên vắng lặng buồn hiu sau một vài cơn gió mùa thoảng qua. Tôi đứng lên cảm ơn bà rồi bước ra cửa, một mình lần theo con đường mòn dẫn đến nhà chú tôi. Từ đó, năm ba ngày tôi đến thăm bà Trang một lần. Lúc đầu Trang có vẻ dè dặt nhưng dần dần bà ấy tỏ ra thân thiện và khi tôi ra về, lúc nào bà cũng mời tôi rảnh rỗi ghé nhà chơi.
Bầu trời đen nghịt, gió bắt đầu thổi mạnh. Tôi cố đi thật nhanh, nhưng vừa tới gần khu chợ chồm hổm thì cơn mưa đổ ụp xuống. Tôi đành tạt vào nhà bà Trang trú tạm. Cơn mưa giông đầu mùa thật dữ tợn, gió giật từng cơn. Một vài tấm lá trên nóc bị tróc. Nước đổ xuống đọng thành vũng nhỏ trên nền nhà. Bà Trang ngồi ở mép giường, nét mặt buồn buồn nói nhà không có đàn ông, mưa to gió lớn cũng sợ. Tôi nói chiến tranh qua rồi, nhưng hậu quả của nó thật ghê gớm. Kẻ mất vợ, người mất chồng. Tôi và chị gần như cùng cảnh ngộ, kiếp này chúng ta trả quá nhiều. Những ngày còn lại không biết rồi sẽ ra sao. Tôi buồn thật sự. Những lời tôi nói ra đều xuất phát tự đáy lòng. Bà Trang không nói gì và tôi cũng không biết bà đang nghĩ gì.
Cơn giông chấm dứt, nhưng trận mưa vẫn kéo dài. Trời đã tối hẳn, không còn nhìn rõ cảnh vật bên ngoài. Bà Trang bước đến đốt cây đèn trên bàn thờ. Ánh sáng từ ngọn đèn chao đảo, khi tỏ khi mờ, chiếu lên khuôn mặt đầy đặn, còn phảng phất nét diễm kiều của một thời con gái. Tôi nhìn bà đăm đăm… Cái cảm giác tự nhiên của một người đàn ông vắng vợ lâu ngày thôi thúc, khiến tôi không còn tự chủ được. Bà Trang cũng chỉ phản ứng lấy lệ… Ngoài trời, mưa vẫn còn nặng hột, thỉnh thoảng một vài ánh chớp lóe lên rồi tắt ngúm. Căn nhà bà Trang chìm trong một đêm mưa đầu mùa dai dẳng, cho đến khi bình minh ló dạng, bắt đầu cho một ngày mới và cũng bắt đầu cho một cuộc tình muộn màng nhưng đầy hạnh phúc.
Cuối cùng, chúng tôi cũng được định cư ở Hoa Kỳ sau một chuyến vượt biên đầy nguy hiểm. Trang suốt ngày buồn bã vì nhớ đứa con gái còn ở lại quê nhà. Chúng tôi sống ở New York một thời gian rồi chuyển về thành phố Garland, Tiểu bang Texas vì không chịu nổi khí hậu buốt giá ở miền bắc. Tại đây tôi và Trang dồn nỗ lực vào nghề may. Thời điểm đó nghề may khá thịnh hành và kiếm rất nhiều tiền. Từ công việc may thuê, chúng tôi mở được một cửa tiệm, rồi hai cửa tiệm vì vậy mà chúng tôi phải chia nhau mỗi người quản lý một tiệm. Hầu như chúng tôi chỉ gặp nhau về ban đêm và cuối tuần. Chúng tôi khá thành công trên xứ sở tạm dung này.
Một hôm, có một người đàn ông trạc tuổi trung niên vào tiệm tôi xin việc. Ông ấy nói tôi qua diện HO, mới được nửa năm. Tôi vốn là một sĩ quan ở tù cải tạo nhiều năm nên rất thông cảm với những người cùng cảnh ngộ. Tôi xem xong tờ đơn xin việc rồi nói được anh đến đây làm cho vui. Ngày mai anh có thể đi làm. Anh Tân cứ yên tâm, ở đây không có việc gì nặng đâu. Tân đứng lên nói cảm ơn rồi ra về. Tân làm được vài tháng, công việc đã thành thạo nhưng lúc nào cũng buồn bã đăm chiêu, ít trò chuyện và thố lộ việc riêng tư của mình. Lúc đầu tôi không để ý nhưng dần dà tôi thấy ở anh hình như có một nỗi buồn gì đó đang giữ kín trong lòng. Một hôm nhân công việc rảnh rỗi, tôi mời Tân đi nhậu. Tân có vẻ do dự nhưng rồi cũng đồng ý. Trong một nhà hàng khá sang ở Garland, tôi và Tân vừa uống bia vừa nói chuyện bao đồng. Khi cả hai ngà ngà say tôi tò mò hỏi Tân về hoàn cảnh gia đình anh. Tân buồn buồn trả lời, tôi qua đây một mình! Vợ tôi đã lấy chồng khác khi tôi còn ở trong tù, nghe nói bà ấy cũng qua Mỹ rồi. Tôi hỏi anh về năm nào. Tân trả lời về hồi năm tám lăm. Tôi gật gù nói như vậy là anh về sau tôi tới bốn năm. Tôi dặn Tân một vài công việc cho ngày hôm sau rồi lên xe ra về.
Mùa đông năm nay lạnh hơn những năm trước rất nhiều. Nhất là vào dịp tết ta, gió từ miền Bắc thổi về lạnh thấu xương. Tuyết cũng bắt đầu rơi càng lúc càng nhiều. Sân sau nhà tôi và những mái nhà nằm bên kia hàng rào phủ lên một màu trắng xóa. Những chú sóc thường ngày nghịch ngợm chạy nhảy tùm lum, giờ nằm co ro ở một góc nhà kho trông thật thảm hại. Ngày hôm sau tuyết ngừng rơi. Tôi mở cửa nhà xe bước ra bên ngoài. Mặt trời chói chang phủ lên mặt tuyết một màu trắng lung linh rực rỡ trông giống như một cảnh thần tiên nào đó. Con đường trước nhà hằn lên những vết xe trên mặt tuyết. Những đứa trẻ ở mấy ngôi nhà đối diện túa ra sân lấy tuyết đắp thành những hình người trông thật ngộ nghĩnh. Tôi cũng thấy vui lay với các cô cậu nhóc con nghịch ngợm này. Tôi trở vào nhà thì chuông điện thoại bật reo. Tôi nghe đầu giây bên kia tiếng Tân nói sẽ đến nhà thăm vợ chồng tôi. Tôi nói đường đông đá lái xe nguy hiểm lắm, Tân nói xe cộ chạy nhiều rồi, không sao đâu. Tôi đoán được Tân đến với mục đích tặng quà tết cho tôi nên không tiện từ chối. Trang hỏi anh cần đồ nhậu không. Tôi trả lời Tân có lòng đến nhà, mình cũng nên đối đãi tử tế với anh ấy. Vả lại thời tiết này mà có người cùng nhậu thật là tuyệt.
Khoảng một tiếng sau thì Tân đến nhà. Tôi mời Tân ngồi và nói hôm nay mình lai rai một chút chơi. Tân nói lời từ chối. Tôi gạt ngang và nói vợ tôi đang làm đồ nhậu. Chắc một chút nữa là xong. Trong lúc chờ đợi tôi hỏi Tân có ý lập gia đình với một người đàn bà khác không. Tân trả lời tôi chưa có ý định này. Tôi nói ở cái xứ này sống một mình bất tiện lắm. Dù sao cũng nên lập gia đình để nương tựa nhau thì tốt hơn. Tôi vừa dứt lời thì Trang từ trong bếp bước ra với một dĩa đồ nhậu trên tay. Trang khựng lại khi nhận ra Tân. Nàng đứng sững như trời trồng. Dĩa đồ nhậu vuột khỏi tay nàng rơi xuống nền gạch vỡ toang, thức ăn văng tung tóe. Tân đứng bật dậy như một cái máy bước nhanh ra cửa, không nói một lời nào. Tôi vô cùng kinh ngạc khi chứng kiến sự việc ngoài sức tưởng tượng này. Trang vẫn đứng lặng người tại chỗ. Nét mặt thất thần tái mét. Tôi đứng lên nắm tay nàng dìu đến ngồi trên ghế sofa hỏi sao hai người có cử chỉ kỳ cục như vậy. Trang ồ lên khóc nức nở. Bây giờ thì tôi đã đoán được phần nào sự việc rồi. Tôi nhỏ nhẹ hỏi Trang có phải anh Tân là người chồng cũ mà em tưởng đã chết trong tù đó không? Trang gật đầu rồi ù té chạy vào phòng ôm gối khóc. Tôi nói việc đâu còn có đó. Em đừng quá xúc động. Trang thôi khóc nhưng vẫn nằm trên giường quay mặt vào trong. Tôi an ủi nàng vài lời nữa rồi ra ngồi ở phòng khách. Tâm trạng tôi lúc này rối như tơ vò. Tôi không hề trách cứ Trang và tôi cũng không hiểu được phản ứng của nàng xuất phát từ một cảm xúc nào trước sự việc vừa mới xảy ra. Tôi nghĩ ngợi lung tung về một tương lai mà tôi phải đối mặt trong những ngày sắp tới. Suốt ngày hôm đó tôi luôn ở bên Trang vì sợ nàng không chịu nổi nghịch cảnh rồi làm chuyện điên rồ. Ngoài trời tuyết bắt đầu tan nhưng cái lạnh trong hồn tôi dường như mới bắt đầu. Những chai bia thay nhau cạn, dĩa đồ nhậu vỡ tung vẫn còn nằm nguyên đó. Căn nhà trở nên trống vắng đến rợn người. Tôi vói tay lấy xách quà Tân vừa mang đến mở ra xem. Trong đó có hai đòn bánh tét, một hộp mứt và một gói trà. Tôi buộc lại gói quà rồi vào phòng thăm chừng Trang. Nàng vẫn nằm yên đó. Tóc nàng xỏa ra che khuất một phần khuôn mặt còn đọng một vài giọt nước mắt…
Trang à! Bây giờ em định thế nào? Trang trả lời để em được yên tĩnh một vài ngày nữa rồi chúng ta sẽ nói chuyện sau. Vậy cũng được. Anh chỉ muốn em thật bình tĩnh để có một quyết định sáng suốt, đừng để cho sự việc trở nên rắc rối hơn. Chúng ta nên giải quyết vấn đề một cách êm thắm. Anh sẵn sàng chấp nhận những gì em muốn và tôn trọng mọi quyết định của em. Nói xong tôi bỏ ra ngoài với một tâm trạng đầy mâu thuẫn. Hai ngày sau tôi bảo Trang em ở nhà nghỉ ngơi. Anh ra tiệm coi công việc thế nào rồi về ngay. Trang nói dù gì anh cũng nên có mặt ở tiệm để công việc khỏi bị tồn đọng. Tôi nói em yên tâm. Anh sẽ lo mọi việc. Đến tiệm, việc đầu tiên của tôi là muốn nói chuyện với Tân về sự việc đã xảy ra nhưng cô thư ký bảo mấy ngày nay không thấy ông Tân đến tiệm. Tôi hỏi anh ấy có nói đi đâu không. Cô thư ký trả lời mấy hôm trước ông Tân nói đến tìm ông có việc rồi không thấy ông ta đến tiệm nữa. Tôi nói thôi được cô làm việc đi. Trở về nhà tôi đem chuyện Tân bỏ việc nói cho Trang nghe. Nàng tỏ ra một chút ngạc nhiên rồi nhìn tôi nói anh không cần quan tâm nhiều về vấn đề này. Tân bỏ làm là một việc tất nhiên vì dù gì anh ấy cũng bị một cú xóc khá nặng, nhưng thế nào anh ấy cũng sẽ tìm em để tỏ bày một điều gì đó. Anh cũng nghĩ như vậy, nhưng em đã chuẩn bị phải trả lời như thế nào chưa? Em sẽ trả lời dứt khoát với anh ấy là mọi việc đã được an bài không còn một chọn lựa nào khác ngoài việc phải chấp nhận nó. Em nghĩ là anh ấy sẽ phản ứng thế nào? Phản ứng thế nào cũng mặc vì em cảm thấy mình không hoàn toàn có lỗi trong vấn đề này và em tin là anh ấy cũng nghĩ như thế. Theo anh thì mọi việc phải được giải quyết một cách ổn thỏa, rõ ràng hơn là biến mình thành một cỗ máy không người lái muốn đâm đầu vào đâu cũng được. Anh muốn chúng ta, cả ba người phải đối mặt nhau để giải quyết vấn đề. Trang nói không được. Anh có nghĩ khi cả ba người gặp nhau thì sự việc sẽ càng phức tạp và tồi tệ hơn không? Thôi được, anh tôn trọng quyết định của em. Nói xong tôi bỏ qua phòng làm việc vùi đầu vào những chồng hồ sơ dày cộm cho đến nửa đêm mới lăn ra ngủ. Đã nhiều đêm thức trắng, nên vừa nằm xuống là chìm vào giấc ngủ như một đứa trẻ vô tư lự.
Hai tuần trôi qua trong sự chờ đợi nhưng chúng tôi vẫn không thấy một phản ứng nào từ Tân. Trang cố làm ra vẻ bình thản nhưng tôi biết nàng đang chịu một áp lực rất lớn trước sự im lặng khó hiểu này. Tôi không còn đủ kiên nhẫn nên đã nhờ Lượng đến nhà Tân để thăm dò thái độ của anh. Lượng cho tôi biết Tân đã trả căn chung cư và đi đâu không rõ. Tôi đem chuyện này nói với Trang. Nàng không nói gì và cũng không biểu lộ một cử chỉ đặc biệt nào. Sự chờ đợi của chúng tôi lại tiếp tục đến tuần thứ tư thì tôi nhận được thư của Tân gởi từ Cali (theo dấu bưu điên). Ngoài phong bì không đề địa chỉ người gởi. Tôi mở thư ra xem, anh viết:
“Kính gởi anh chị Hưng,
Lời đầu tiên của tôi là chúc anh chị luôn vui khỏe và may mắn trong công việc làm ăn. Tôi cũng xin lỗi anh chị về chuyện bỏ việc ra đi mà không báo trước, mong anh chị thông cảm. Tôi không biết anh chị có nảy sinh vấn đề gì khó xử khi sự việc ngoài ý muốn xảy ra hay không? Nhưng tôi luôn cầu mong anh chị tha thứ trước phản ứng không mấy tốt đẹp xảy ra ngoài vòng kiểm soát của tôi. Tôi cũng xin cảm ơn anh Hưng đã cư xử tốt với tôi trong những ngày tôi còn ở Garland. Kính thư, Tân”
Đọc xong, tôi đưa lá thư cho Trang. Nàng xem qua rồi nói cũng may chúng ta là những người hiểu biết và rộng lượng. Mọi việc coi như đã giải quyết xong.
Hội trường trang hoàng khá đẹp. Thân hữu khắp nơi tụ về tham dự đại hội rất đông. Tôi đang loay hoay chào hỏi mọi người. Trang cũng lăng xăng với các bạn học cũ ở một góc hội trường. Bất chợt tôi nhìn thấy Tân cùng lúc anh cũng vừa nhận ra tôi. Chúng tôi vừa đưa tay chào vừa tiến về phía nhau. Chúng tôi bắt tay với một cử chỉ niềm nở thân thiện. Tôi chỉ tay về phía Trang nói bà ấy rất vui khi gặp lại bạn bè. Tân nói bà xã mình cũng vậy. Anh đã lập gia đình? Vâng. Đã được vài năm. Mừng anh. Tân nói anh chờ chút. Tôi tìm bà xã đưa đến chào anh chị. Tôi gật đầu rồi hướng về phía Trang ra dấu gọi nàng đến. Trang nói gì đó với mấy bà bạn rồi đến với tôi. Trang hỏi có việc gì vậy? Tôi trả lời em chờ một chút. Anh sẽ dành cho em một việc rất bất ngờ. Trang định gặng hỏi tôi việc gì nhưng nàng khựng lại vì nhận ra nét mặt tôi biến đổi một cách kỳ lạ. Trang tò mò nhìn theo hướng mắt tôi và nhận ra Tân đang nắm tay một người đàn bà xinh đẹp tiến về phía chúng tôi. Tôi kịp lấy lại bình tĩnh khi Tân vui vẻ giới thiệu đây là Lệ bà xã mình. Tôi cố kiềm chế cho giọng không bị run nói chào chị Lệ. Tân cũng chào hỏi Trang trong khi Lệ đứng yên như trời trồng. Tôi nhận ra sự giao động kịch liệt từ đôi mắt Lệ nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên hỏi chị Lệ qua Mỹ lâu chưa. Lệ biết tôi không muốn gây ra rắc rối trước sự tao ngộ oái oăm đầy kịch tính này nên nàng giả vờ vui vẻ trả lời dạ em qua được bốn năm rồi. Tôi nói thôi chào anh chị, tôi còn chút việc phải làm. Hẹn khi khác gặp lại. Tôi nói xong liền nắm tay Trang rời khỏi hội trường. Trang không thắc mắc gì cả vì nàng nghĩ là tôi không muốn trò chuyện với Tân nhiều. Nàng nghĩ tôi đang trốn chạy sự thật, nhưng nàng đâu hiểu tâm trạng của tôi khi gặp lại Lệ, người vợ cũ đã lấy chồng khác khi tôi còn ở trong tù. Tôi băn khoăn không biết nên nói với Trang việc này không và tôi cũng thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đưa đẩy Tân và Lệ gặp nhau trên xứ sở tạm dung này. Lệ đã chia tay với người chồng mới khi còn ở quê nhà hay cả hai qua Mỹ rồi mới thôi nhau? Tôi tự nhủ mình không nên để ý đến vấn đề này làm gì và không cần biết Trang nghĩ thế nào về mình. Tôi quyết định không tham dự đại hội nữa và cùng Trang biến chuyến đi thành một chuyến du lịch ở miền Nam Cali…
Sep-24-2011
Nguyễn Đức Nhơn
Như Một Giấc Mơ
Anh đã lập gia đình khác sao còn bảo lãnh em qua làm gì? Anh...
Như Một Giấc Mơ
Anh đã lập gia đình khác sao còn bảo lãnh em qua làm gì? Anh...
Sau Mùa Chinh Chiến
Như Qua Sông Dịch
Hoàng Hôn Trên Bến Nước
Tàn Thu
Như Một Giấc Mơ
Anh đã lập gia đình khác sao còn bảo lãnh em qua làm gì? Anh...
Sau Mùa Chinh Chiến
Như Qua Sông Dịch
Hoàng Hôn Trên Bến Nước
Tàn Thu